Một số điểm mới của Luật Tiếp cận thông tin

Ngày 23/4/2026, Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sau đây viết tắt là Luật).

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026. Luật gồm 4 chương, 31 điều, nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh sau 10 năm thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, đồng thời tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong tình hình mới. Luật có một số điểm mới đáng chú ý sau:

Một là, Luật mở rộng, bảo đảm tốt hơn về nguyên tắc và quyền tiếp cận thông tin của công dân. Theo đó, mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn được Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi khi thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Người dưới 18 tuổi có thể tự mình hoặc được sự đồng ý của người đại diện hoặc thông qua người đại diện theo quy định của pháp luật dân sự để thực hiện việc yêu cầu cung cấp thông tin, trừ trường hợp Luật Trẻ em và luật khác có quy định khác.

Hai là, tăng cường quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc tiếp cận thông tin quy định tại Điều 8 Luật. Đây là điểm mới quan trọng, tăng tính bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin trên thực tế của người dân trong bối cảnh phát triển như hiện nay.

Ba là, đẩy mạnh trách nhiệm của cơ quan, đơn vị trong việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Cùng với cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu cũng có trách nhiệm cung cấp thông tin. Quy định này nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng tính minh bạch của các đơn vị sự nghiệp công lập, đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại.

Bốn là, điều chỉnh phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin của Ủy ban nhân dân cấp xã, nhằm phù hợp với thực tiễn và mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp. Đồng thời Luật quy định Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra nhưng không phải cung cấp thông tin nhận được từ cơ quan khác (trừ một số trường hợp theo quy định). Đầu mối cung cấp thông tin cũng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã chủ động xác định, phù hợp với điều kiện thực tế.

Năm là, mở rộng phạm vi thông tin phải được công khai quy định tại Điều 17 Luật. Trên cơ sở kế thừa các quy định trước đây, Luật bổ sung thêm các nhóm thông tin quan trọng gắn trực tiếp với đời sống người dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp như: Thông tin xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dược, lao động, sản xuất, buôn bán hàng giả mà gây hậu quả lớn hoặc ảnh hưởng xấu về dư luận xã hội; Kết luận kiểm định, đánh giá chất lượng nhà chung cư, kế hoạch cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư; thông tin chung về cơ sở giáo dục, thu, chi tài chính của cơ sở giáo dục, kế hoạch và kết quả hoạt động đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên; giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh vi phạm pháp luật về y tế, …

Sáu là, Luật phân định thông tin công dân không được tiếp cận và thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện. Quy định này nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân với yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước, an ninh quốc gia và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Theo đó, có 6 nhóm thông tin công dân không được tiếp cận, gồm: thông tin thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước; thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo quy định của pháp luật dân sự; bí mật kinh doanh theo quy định  pháp luật về sở hữu trí tuệ; thông tin mà nếu cung cấp sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng, gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp hoặc tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc người khác; thông tin thuộc bí mật công tác do cơ quan, đơn vị xác định theo quy định pháp luật; thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan, đơn vị, tài liệu do cơ quan, đơn vị soạn thảo cho công việc nội bộ.

Bảy là, đa dạng các hình thức công khai, cung cấp thông tin, khuyến khích áp dụng phương thức điện tử, phù hợp với xu hướng chuyển đổi số, như công khai thông tin trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, các kênh nội dung, trang cộng đồng chính thức, công khai thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng. Việc đa dạng hóa các hình thức công khai, cung cấp thông tin nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân trên môi trường số.

Việc ban hành Luật có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân; tăng cường trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập; phát huy rộng rãi quyền làm chủ của nhân dân; phù hợp với chủ trương sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp; bảo đảm phân cấp, phân quyền theo quy định của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

Tài liệu đính kèm

Phường Gia Viên
QR Code
Tin liên quan
1 2 3 4 5  ... 

image advertisement

image advertisementimage advertisement

 
image advertisement
image advertisement

 

Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0

Cổng thông tin điện tử phường Gia Viên, thành phố Hải Phòng

Cơ quan thường trực: Văn phòng HĐND và UBND phường

Trưởng ban Ban Biên tập: Ông Nguyễn Hữu Tùng - Chánh Văn phòng HĐND và UBND phường

 

image banner

Liên hệ

  • Địa chỉ: 1/126 An Đà, phường Gia Viên, thành phố Hải Phòng
  • Điện thoại: 02253.969.866
  • Email: phuonggiavien@haiphong.gov.vn